Khe Bachel, còn được gọi là khe Pap, là một thiết bị phụ trợ để đo lưu lượng kênh mở. Nguyên mẫu là Venturi Sink, nơi VM.Cone bắt đầu thử nghiệm vào năm 1915 tại Colorado, Hoa Kỳ. Năm 1922, F. L. Parshall đã thay đổi triệt để điều này bằng cách tạo ra cái mà bây giờ được gọi là máng Bachel. Sau đó lại nhiều lần lặp lại thí nghiệm thủy lực học, tạo thành các loại bồn rửa có kích thước từ 1 inch đến 50 inch. Cái tên Bachelor Groove được đặt theo tên của Hiệp hội Dân dụng Hoa Kỳ vào năm 1929. Kể từ đó, nhiều quốc gia như Anh, Thụy Sĩ, Ý, Ấn Độ, Argentina cũng đã đề xuất và thử nghiệm các loại bồn rửa Venturi khác nhau, nhưng bồn rửa Bachel vẫn là bồn rửa phổ biến nhất trong bồn rửa Venturi.
Khe Bachel được tạo thành từ 3 phần của phần nhập khẩu co lại ngược dòng, phần họng ngắn và phần đầu ra khuếch tán hạ lưu. Trong đó, đáy rãnh của đoạn nhập khẩu co rút thường nghiêng về phía hạ lưu, mà đáy rãnh của đoạn xuất khẩu khuếch tán ở hướng nghiêng thì ngược lại với đáy rãnh họng.
Hình dạng của nó phức tạp hơn cấu trúc của đập, hơn nữa chi phí chế tạo cũng tương đối cao. Ngoài ra, để nâng cao độ chính xác của phép đo lượng nước, yêu cầu về độ chính xác của các kích thước khác nhau của bồn rửa là cực kỳ nghiêm ngặt. Đó là lý do tại sao máng Bachel có những lợi thế mà các đập nước khác không có. Thứ nhất, dễ lắp đặt và thích nghi với nhiều địa hình khác nhau. Thứ hai, tổn thất mực nước nhỏ hơn. Theo số liệu thống kê, mực nước mất trong máng Batchel chỉ bằng khoảng 1/4 so với đập nước. Thứ ba, sử dụng máng Bachel, ngay cả khi có một số chất rắn trong nước, hầu như không có kết tủa, sẽ không có hiện tượng lắng đọng bùn, ảnh hưởng đến tốc độ dòng chảy gần và ảnh hưởng đến mực nước ở phía dưới là nhỏ. Cuối cùng, khe Bachel đo dòng chảy rộng. Theo số liệu thống kê, thiết bị phụ trợ đo lưu lượng kênh mở này có phạm vi nước từ 0,1 đến 7,6 m3/s, do đó lượng nước tương đối ổn định và rất chính xác.
Trong bối cảnh cải cách tổng hợp giá nước nông nghiệp, khu vực tưới tiêu đã cập nhật và cải tạo các dự án thủy lợi, áp dụng máng Batchel vào các dự án cải tạo, nâng cao đáng kể độ chính xác của đo lường lượng nước trong khu vực tưới tiêu, không chỉ cung cấp dữ liệu đáng tin cậy để đánh giá tỷ lệ sử dụng nước trong khu vực tưới tiêu, mà còn nuôi dưỡng hiệu quả ý thức bảo tồn nước của người dân trong khu vực tưới tiêu, thúc đẩy sự phát triển bền vững của nông nghiệp trong khu vực tưới tiêu và cũng thúc đẩy sự phát triển hiện đại hóa của quản lý khu vực tưới tiêu.












